01/03/2012 | 11:10:00

Sự thành lập chính quyền cách mạng thành phố Hà Nội

SỰ THÀNH LẬP VÀ BƯỚC ĐẦU VẬN HÀNH CỦA CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI (9/1945 - 12/1946)

I. XÂY DỰNG TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

1. Cách mạng tháng Tám 1945 với sự thiết lập chính quyền cách mạng thành phố Hà Nội

Hà Nội trở thành quốc đô của Đại Việt từ năm 1010 sau quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long của Lý Công Uẩn. Trong tiến trình lịch sử, dù có những thời kỳ trung tâm quyền lực Thăng Long - Hà Nội bị phân tán đến Tây Đô - Thanh Hoá (thời nhà Hồ), đến Phú Xuân - Huế (thời Tây Sơn và nhà Nguyễn) thậm chí còn bị biến thành một “tỉnh” (thời vua Minh Mệnh), nhưng sức lan toả, ảnh hưởng của Hà Nội đối với cả nước luôn vẫn mạnh mẽ. Đến thời thuộc địa, sau khi thôn tính xong Việt Nam và Campuchia, ban đầu người Pháp đặt trung tâm đầu não tại Sài Gòn, nhưng sau khi mở rộng phạm vi thôn tính ra toàn bộ các nước còn lại trên bán đảo Đông Dương (chiếm Lào năm 1893) và xác lập phạm vi ảnh hưởng đối với một phần Nam Trung Hoa (năm 1899), thì trung tâm chính trị toàn Liên bang Đông Dương được dịch chuyển từ Sài Gòn ra Hà Nội (năm 1902). Hà Nội đóng vai trò “kép”: vừa là trung tâm chính trị của toàn Liên bang Đông Dương, vừa là trung tâm của xứ Bắc Kỳ (Tonkin). Tại đây người Pháp đã tổ chức thành một đô thị kiểu phương Tây nhằm đáp ứng vai trò “kép” nêu trên. Gắn liền với vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước, từ thời kỳ phong kiến đến thời kỳ thực dân, tại Thăng Long - Hà Nội đều thiết lập một cơ cấu chính quyền và cơ chế đặc thù để phục vụ yêu cầu quản lý.

Tiền đề lịch sử nêu trên cùng với diễn tiến phong trào cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo từ năm 1930 đã quy định khả năng lựa chọn Hà Nội làm nơi định đô khi cách mạng thành công. Quá trình hình thành chính quyền thành phố Hà Nội gắn với diễn tiến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, mà Hà Nội trở thành đích cần đến của lực lượng cách mạng, không chỉ để lật đổ cơ quan đầu não thực dân và tay sai, mà còn thiết lập chính quyền cách mạng để tổ chức và quản lý xã hội mới. Do đó, thiết lập và tổ chức chính quyền thành phố Hà Nội trở thành một bộ phận cấu thành của cuộc cách mạng do Đảng lãnh đạo, với cả trách nhiệm của Trung ương và địa phương Hà Nội.

Việc hình thành “trung tâm chính trị Tân Trào” trong những ngày tiền khởi nghĩa đã báo hiệu bước quá độ cho sự chuyển tiếp sang “trung tâm chính trị Ba Đình”. Các cơ cấu tổ chức chuẩn bị cho sự thành lập chính quyền cách mạng thành phố Hà Nội dần được định hình trong quá trình chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Thực hiện chủ trương khởi nghĩa của Trung ương Đảng ngày 13-8-1945, công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội được tiến hành khẩn trương. Sáng ngày 16-8, Uỷ ban Quân sự cách mạng Hà Nội (tức Uỷ ban Khởi nghĩa) được thành lập, do Nguyễn Khang (Uỷ viên Thường vụ Xứ uỷ) làm Chủ tịch và 4 ủy viên. Chức năng, nhiệm vụ của Uỷ ban là lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội.

Đây là một cơ cấu mang hình thức “tiền chính quyền” của thành phố Hà Nội trong giai đoạn chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Đó là bước quá độ để đi đến thiết lập chính quyền chính thức khi cách mạng thắng lợi. Sau khi được thành lập, Uỷ ban Quân sự cách mạng thành phố quyết định cấp tốc xúc tiến khởi nghĩa ở Hà Nội, trước mắt là đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban Quân sự cách mạng, trên địa bàn Hà Nội đã diễn ra nhiều cuộc mít tinh, diễn thuyết ủng hộ Việt Minh. Chiều ngày 17-8, tại Quảng trường Nhà hát Lớn, Tổng hội viên chức - một tổ chức thân Nhật - tổ chức mít tinh nhằm hô hào nhân dân ủng hộ chính quyền bù nhìn. Cuộc mít tinh của chính quyền thân Nhật đã bị biến thành cuộc biểu tình tuần hành ủng hộ Việt Minh. Đoàn biểu tình bắt đầu tuần hành từ Nhà hát Lớn qua các phố, vừa đi vừa hô vang các khẩu hiệu “ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo bù nhìn”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Trước sức mạnh của nhân dân, quân Nhật không dám can thiệp. Chính quyền tay sai thân Nhật tê liệt. Tối ngày 17-8, Thành uỷ và Uỷ ban Quân sự cách mạng Hà Nội triệu tập hội nghị mở rộng và nhận định: thời cơ khởi nghĩa ở Hà Nội đã chín muồi, phải tiến hành khởi nghĩa gấp. Sáng sớm ngày 18-8, Uỷ ban Quân sự cách mạng chuyển vào nội thành, đóng trụ sở ở số 101 phố Găm-bét- ta. Sau khi chuyển vào nội thành, Uỷ ban đã tiến hành nhiều công việc cấp bách như xác định thể thức tổ chức chính quyền cách mạng, cách xử lý đối với giới chủ và cai ký các xí nghiệp, điều động thêm lực lượng tự vệ chiến đấu và tuyên truyền xung phong đến hỗ trợ khởi nghĩa ở cơ sở, định khẩu hiệu, cụ thể hoá kế hoạch giành chính quyền, thảo lời “hiệu triệu”, viết truyền đơn v.v.

Ngày 19-8, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội nổ ra và nhanh chóng giành thắng lợi. Ngay tối 19-8, Xứ uỷ Bắc Kỳ đã họp tại Bắc Bộ phủ (Phủ Khâm sai cũ) quyết định thành lập Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội. Ông Nguyễn Huy Khôi (Trần Quang Huy) được chỉ định làm Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội, ông Nguyễn Quyết làm Chính uỷ các lực lượng vũ trang thành phố. Ngày 20-8, Ủy ban nhân dân lâm thời thành phố Hà Nội tổ chức lễ ra mắt tại Bắc Bộ phủ trước sự chứng kiến của đông đảo nhân dân.

Sau khi chính quyền cách mạng lâm thời thành phố được thành lập, trong 2 ngày 20 và 21-8, hầu hết các nhà máy ở nội thành đã tổ chức Ủy ban công nhân cách mạng. Tại các công sở, khu phố cũng đã thành lập các Ban đại diện Việt Minh. Đến ngày 25-8, toàn bộ các xã ngoại thành đã thành lập được Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời.

Cuối tháng 8-1945, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời được cải tổ và đổi tên thành Ủy ban Nhân dân, mở rộng thành phần để một số nhân sĩ trí thức tư sản có tinh thần yêu nước tham gia, làm cho chính quyền thực sự mang tính nhân dân rộng rãi.

Ngày 30-8-1945, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội được Chính phủ lâm thời chỉ định đã làm lễ nhậm chức, do bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch.


Sau khi ủy ban Nhân dân thành phố ra đời, ủy ban nhân dân các khu phố nội thành cũng lần lượt được thành lập. Đến tháng 10-1945, ở 47 khu phố nội thành và các xã ngoại thành đều thành lập được ủy ban nhân dân. Trong các nhà máy, xí nghiệp, ủy ban công nhân cách mạng đổi thành ủy ban công nhân, sau lại đổi thành ủy ban xí nghiệp. Từ sau tháng 10-1945, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội được đổi thành Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội.


2. Thiết kế tổ chức bộ máy chính quyền thành phố

Cách mạng tháng Tám thành công, vấn đề xây dựng chính quyền cách mạng từ Trung ương đến địa phương theo thể thức dân chủ trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Trong đó xây dựng chính quyền ở Hà Nội - một đô thị đóng vai trò trung tâm chính trị đất nước - có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ liên quan đến yêu cầu tổ chức quản lý phát triển Hà Nội sau ngày giành được độc lập, mà còn đóng góp vào quá trình tổ chức và vận hành của hệ thống chính trị cấp Trung ương trong giai đoạn “trứng nước”. Do đó, việc xây dựng chính quyền Hà Nội trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám nhận được sự quan tâm và chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chính phủ.

Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 14/SL về việc tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Tuy vậy, do sự phá hoại của các đảng phái phản động nên cuộc tổng tuyển cử phải trì hoãn đến ngày 6-1-1946 mới được tổ chức. Trong điều kiện địa vị pháp lý, tổ chức bộ máy và thể thức vận hành của thủ đô Hà Nội chưa được chế định hoá bằng các đạo luật, Chính phủ đã ban hành một số sắc lệnh, nghị định quy định về việc thiết lập, cách thức tổ chức, cơ chế vận hành của chính quyền Hà Nội.

Nếu như thiết kế mô hình nhà nước Trung ương theo thể chế dân chủ đã phức tạp thì xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương còn phức tạp bội phần, do sự chi phối của tính địa phương, tính tộc người, hình thái và chức năng lãnh thổ,... nhất là phân biệt đặc trưng giữa miền núi và đồng bằng, giữa vùng đa tộc người và vùng thuần nhất một tộc người, giữa nông thôn và đô thị. Vì vậy, cuối tháng 10-1945, Ban Nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương của Chính phủ được thành lập, do Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp làm Trưởng ban, có chức năng nghiên cứu tổ chức chính quyền địa phương. Ban quy tụ nhiều chuyên gia chính trị, pháp lý lúc bấy giờ, kể cả đại diện của Uỷ ban Nhân dân Bắc Bộ. Sau một thời gian gấp rút nghiên cứu, ngày 22-11-1945, Ban đã đưa ra những kiến nghị cụ thể để làm cơ sở cho Bộ Nội vụ đệ trình Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 63/SL về cơ cấu tổ chức, quyền hạn, cách làm việc của hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính các cấp. Đây là văn bản quy phạm pháp luật cơ bản nhất lúc bấy giờ quy định tổ chức chính quyền nhân dân các cấp địa phương. Tuy vậy, Sắc lệnh số 63/SL chỉ quy định chính quyền địa phương nói chung, chưa khu biệt hoá đặc trưng tổ chức chính quyền đô thị. Vì vậy, Ban tiếp tục tập trung nghiên cứu và ngày 21-12-1945 trình Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 77/SL về việc tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố và Sắc lệnh số 11/SL (24-1-1946) về việc tổ chức chính quyền nhân dân tại các thị xã lớn. Trên cơ sở các Sắc lệnh nêu trên, Bộ Nội vụ đã ban hành Nghị định số 64 ngày 29-12-1945 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp xã, huyện, tỉnh, kỳ; Nghị định số 31 ngày 28-1-1946 quy định thể lệ bầu cử Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính khu phố; Nghị định số 30 ngày 28-1-1946 quy định thể lệ bầu cử các uỷ viên dự khuyết trong các Uỷ ban hành chính.


Ngày 21-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 77/SL, xác định quyền hạn, tổ chức và hoạt động của chính quyền ở các thị xã và thành phố. Đối với thành phố Hà Nội, Điều 3 của Sắc lệnh quy định: Thành phố Hà Nội được đặt trực tiếp dưới quyền Chính phủ Trung ương. Theo đó, mô hình tổ chức chính quyền Hà Nội là mô hình tổ chức một cấp chính quyền, hai cấp hành chính với chế định “cách tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã cũng y như cách tổ chức ở các xã” và ở mỗi thành phố đặt ba cơ quan: Hội đồng nhân dân, Uỷ ban hành chính thành phố và Uỷ ban hành chính khu phố. Mô hình này có mấy đặc điểm sau: chính quyền hoàn chỉnh chỉ thiết lập ở cấp thành phố (gồm cả Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính); dưới thành phố không phân khúc thành các đơn vị hành chính - lãnh thổ mà chỉ thiết lập đơn vị hành chính thuần tuý (Uỷ ban hành chính khu phố); quan hệ giữa thành phố với khu phố không thực hiện phân quyền mà là tản quyền.


Cũng theo quy định của Sắc lệnh số 77, Hội đồng nhân dân thành phố được bầu theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu, là cơ quan thay mặt cho nhân dân thành phố. Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội có quyền quyết định tất cả các vấn đề thuộc phạm vi của thành phố với điều kiện các quyết định đó không được trái với quy định của cấp trên; đối với các vấn đề chuyên môn thì phải hỏi ý kiến của các nhà chuyên môn. Hội đồng Nhân dân họp 2 tháng 1 kỳ hội nghị thường, mỗi kỳ dài nhất 6 ngày, riêng kỳ họp để bàn về ngân sách có thể kéo dài đến 15 ngày. Số lượng uỷ viên Hội đồng Nhân dân thành phố từ 20 đến 30 uỷ viên chính thức và 5 uỷ viên dự khuyết. Nhiệm kỳ của Hội đồng Nhân dân là 2 năm, nhưng khoá đầu chỉ 1 năm. Uỷ ban Hành chính thành phố do Hội đồng Nhân dân thành phố bầu ra, song phải được Chính phủ chuẩn y thì mới có thể nhậm chức (các địa phương khác do Uỷ ban Hành chính cấp Bộ - Bắc Bộ, Nam Bộ, Trung Bộ chuẩn y).


Thời hạn làm việc của Uỷ ban Hành chính thành phố là 2 năm, nhưng khoá đầu thời hạn chỉ 1 năm. Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội có quyền hạn thi hành mệnh lệnh của Chính phủ, các bộ/nha và các quyết nghị của Hội đồng Nhân dân thành phố; kiểm soát các Uỷ ban Hành chính khu phố; triệu tập Hội đồng Nhân dân thành phố; điều khiển các viên chức thuộc ngạch thành phố; giải quyết các việc sự vụ trong phạm vi thành phố; thu - chi ngân sách thành phố; ra nghị định để giữ việc trị an và vệ sinh trong thành phố; điều khiển đội cảnh binh để lo việc tuần phòng và trị an; ra lệnh điều động quân đội đóng trong thành phố trong những trường hợp tối khẩn cấp để bảo vệ đất nước nhưng phải báo cáo lên Chính phủ. Uỷ ban Hành chính thành phố hoạt động theo cơ chế của cơ quan thường trực, khác với Hội đồng Nhân dân hoạt động theo kỳ họp. Các cuộc họp của Uỷ ban Hành chính bao giờ cũng họp kín.


Uỷ ban Hành chính khu phố được đặt ở mỗi khu phố gồm 3 uỷ viên chính thức (một chủ tịch, một phó chủ tịch và một thư ký) và hai uỷ viên dự khuyết. Uỷ ban Hành chính khu phố do dân khu phố bầu ra theo lối phổ thông và trực tiếp đầu phiếu, là cơ quan vừa thay mặt cho dân khu phố vừa thay mặt cho Uỷ ban Hành chính thành phố. Tất cả cử tri Hội đồng Nhân dân thành phố mà nguyên quán hoặc trú ngụ ở khu phố đều có quyền bầu cử ủy ban hành chính khu phố. Tất cả cử tri ủy ban hành chính khu phố nếu biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ đều có quyền ứng cử vào ủy ban hành chính khu phố. Thời hạn làm việc của uỷ viên hành chính là 1 năm. Uỷ ban Hành chính thành phố có thể giải tán Uỷ ban Hành chính khu phố khi không tuân lệnh cấp trên.


Uỷ ban Hành chính khu phố có quyền hạn đề đạt nguyện vọng nhân dân khu phố lên Uỷ ban Hành chính thành phố; thi hành mệnh lệnh của Uỷ ban Hành chính thành phố và quyết nghị giúp Hội đồng Nhân dân thành phố trong khu phố; giúp các cơ quan chuyên môn trong phạm vi khu phố. Uỷ ban Hành chính khu phố là một cơ quan thường trực và bao giờ cũng họp kín.


Về mặt phân cấp, Uỷ ban Hành chính thành phố vừa thay mặt cho dân thành phố, vừa thay mặt cho Chính phủ. Đây là một cơ chế đặc thù của chính quyền Hà Nội so với các đơn vị hành chính - lãnh thổ khác với các đặc trưng sau: nhận sự chỉ đạo và trực tiếp của Chính phủ hoặc Bộ Nội vụ (không gián tiếp qua cấp Bộ; vừa đại diện cho cư dân trên đơn vị hành chính - lãnh thổ, vừa phục tùng sự chỉ đạo hành chính tập trung, thống nhất của Chính phủ; vừa chịu sự kiểm soát quyền lực của chế định Hội đồng Nhân dân, vừa chịu sự kiểm tra, giám sát của Chính phủ - thực chất đây là sự kết hợp mềm dẻo, uyển chuyển giữa tập quyền và tản quyền, giữa tập trung và phi tập trung trong thực hiện quyền lực nhà nước trên địa bàn một đô thị thực hiện chức năng trung tâm chính trị - hành chính của đất nước.


Cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội dự định tiến hành vào tháng 3-1946, nhưng do tình hình căng thẳng, nên phải hoãn lại. Trong lúc chưa lập được Hội đồng Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, trong các ngày 16 và 30-6-1946, Uỷ ban Hành chính các khu phố và khu hành chính (ngoại thành) được bầu cử. Sau bầu cử, Hà Nội có 118 vị là Chủ tịch các Uỷ ban Hành chính xã, 17 Chủ tịch Uỷ ban Hành chính khu phố. Hệ thống chuyên chính dân chủ nhân dân được thiết lập đã tạo điều kiện để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân lao động, các giai cấp đứng lên xây dựng và bảo vệ chế độ mới.


Ngày 11-10-1946, đại hội chính quyền các cấp, các ngành của Hà Nội lần đầu tiên được tiến hành. Sự kiện này đánh dấu sự trưởng thành của chính quyền nhân dân thành phố. Đây là cuộc vận động lớn của thành phố làm cơ sở chính trị vững chắc cho cuộc kháng chiến lâu dài của Thủ đô.


Mặc dù chưa tiến hành bầu cử Hội đồng Nhân dân thành phố, nhưng trên cơ sở các văn bản pháp luật đã ban hành, chính quyền Hà Nội từng bước được kiện toàn về cơ cấu tổ chức bộ máy. Uỷ ban Hành chính thành phố đã tổ chức được một số ban như: Kinh tế, Tài chính, Kiến trúc, Y tế, Giáo dục, Công an,... Đây là các ban chuyên môn trực thuộc Uỷ ban Hành chính thành phố, giúp Uỷ ban điều hành, quản lý các lĩnh vực kinh tế, xã hội của thành phố. Quy chế hoạt động cũng như tổ chức hoạt động của các ban chuyên môn bước đầu được xây dựng.


Từ tháng 10-1946, thực hiện sự chỉ đạo của Khu uỷ Chiến khu XI, Uỷ ban Bảo vệ thành phố Hà Nội được thành lập do Nguyễn Văn Trân là Chủ tịch. Từ đây, bên cạnh Uỷ ban Hành chính với chức năng hành chính - dân sự, còn xuất hiện ủy ban Bảo vệ thành phố với chức năng hành chính - quân sự. Uỷ ban Bảo vệ của 3 liên khu phố và 17 khu phố nội thành cũng như 5 khu hành chính ngoại thành cũng được gấp rút xây dựng với cơ cấu gồm: 1 uỷ viên quân sự, 1 uỷ viên thông tin, 1 uỷ viên giao thông, 1 trinh sát, 1 tiếp tế, 1 cứu thương, 1 y tế. Cơ cấu thành phần Uỷ ban Bảo vệ gồm: 2/3 cán bộ, 1/3 đại biểu nhân dân.


Như vậy, đến cuối năm 1946, bên cạnh Uỷ ban Hành chính vẫn được duy trì và vận hành theo cơ chế dân chủ, có chức năng quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố, thành lập thêm Uỷ ban Bảo vệ có tính chất quân sự, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cấp trên theo cơ chế chỉ huy - phục tùng. Tính chất kỹ thuật - chuyên môn của các cơ quan quản lý nhà nước dần bị chính trị - quân sự hoá, nhằm đảm bảo sự chỉ đạo tập trung về cả chính trị, tư tưởng và tổ chức. Việc thành lập Chiến khu XI và kiện toàn hệ thống tổ chức hành chính - quân sự là điều kiện cần thiết để quân và dân Hà Nội bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ.


Với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính của đất nước, cùng với quá trình xây dựng chính quyền của địa phương mình, chính quyền Hà Nội còn tích cực tham gia xây dựng chính quyền Trung ương. Ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã tích cực chuẩn bị cơ sở, nơi ăn, chốn ở, nơi làm việc cho các cơ quan lãnh đạo Đảng, Chính phủ lâm thời từ Tân Trào về Hà Nội. Nhân dân Hà Nội trở thành lực lượng chính trị trực tiếp bảo vệ Chính phủ trước những hoạt động chống phá của thù trong, giặc ngoài, nhất là thông qua các hình thức mít tinh, biểu tình, thị uy... Lực lượng vũ trang thủ đô không chỉ bảo vệ chính quyền Hà Nội, mà còn canh gác, bảo vệ các cơ quan Đảng, Chính phủ, Tổng bộ Việt Minh, toà soạn báo Cứu quốc, trụ sở Quốc hội. Trong thời gian quân Tưởng vào thành phố các đơn vị bộ đội chủ lực phải dãn ra ngoại thành, thì vai trò bảo vệ các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội được lực lượng tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu đảm nhận. Trong cuộc bầu cử Quốc hội ngày 6-1-1946, với tổng số cử tri trên toàn địa bàn là 194.830, Hà Nội đã đóng vai trò rất quan trọng vào xây dựng Quốc hội lập hiến, vào sự thắng lợi giòn giã của 6 đại biểu ứng cử trên địa bàn.


II. XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ MỚI, THAM GIA ĐẤU TRANH CHỐNG THÙ TRONG GIẶC NGOÀI, CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN


Ngay khi vừa mới thiết lập, chính quyền thành phố Hà Nội đã phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức do hậu quả nặng nề từ các chính sách thực dân, phát xít của Pháp - Nhật trước đó. Nền kinh tế vốn đã lạc hậu, lại bị suy sụp, ngoại thương bế tắc. Chính quyền cách mạng chưa quốc hữu hoá được những cơ sở kinh tế của tư bản thực dân. Hàng hoá khan hiếm, nạn đầu cơ tích trữ gia tăng. Thiên tai xảy ra liên tiếp tại nhiều tỉnh, dòng người hành khất đổ về Hà Nội nhiều, khiến cho việc quản lý đô thị rất khó khăn. Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị quốc gia, nên các đảng phái phản động thân Nhật trước đây và các đảng phái thân Tưởng ráo riết củng cố cơ sở, móc nối gây dựng lực lượng, ra sức chống phá chính quyền nhân dân. Trước tình hình đó, ngay sau khi ra mắt quần chúng, Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội đã thực hiện một số biện pháp cấp bách nhằm ổn định tình hình.


1. Giải quyết những tình huống cấp bách


1.1. Giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội


Một trong những khó khăn, thử thách lớn nhất của chính quyền cách mạng Hà Nội sau khi thành lập là đối mặt với nạn đói. Đó là hậu quả của nền kinh tế vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Nhật - Pháp bóc lột kiệt quệ. Để cứu đói, ngày 23-8-1945, chính quyền thành phố chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp kiên quyết như cấm nấu rượu, chống đầu cơ, tích trữ, khuyến khích lưu thông, không hạn chế số lượng lương thực chuyển từ các địa phương khác vào thành phố.


Hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo gương Người, phong trào nhường cơm xẻ áo ở Hà Nội nhận được sự hưởng ứng rộng rãi của nhân dân. Chính quyền thành phố đã chỉ đạo nhân dân tham gia bằng các hình thức: mở “Hũ gạo cứu đói”, cứ mười ngày một lần tổ chức “Ngày đồng tâm, bớt bữa, dành gạo cứu đói”. Trên địa bàn thành phố, các tổ chức đều tiến hành quyên góp, thành lập các đội quyên gạo, được đông đảo phụ lão, phụ nữ, thanh niên tham gia. Nhân dân Hà Nội đã nhiệt thành quyên góp được hàng vạn tấn gạo vào quỹ cứu đói, giải quyết được một phần khó khăn trong hoàn cảnh cam go. Số gạo quyên góp, tiết kiệm được ngoài việc giúp đồng bào bị đói ở thành phố còn được gửi đi giúp 25 làng bị lụt ở Hà Đông, Bắc Ninh (270 tạ), Sơn Tây (100 tạ), Phú Thọ (50 tạ). Các đoàn thể quần chúng ở Hà Nội còn gửi giúp các tỉnh bị lụt 25 vạn đồng để mua gạo, thóc giống và mạ.


Song song với phong trào nhường cơm sẻ áo, để thanh toán tận gốc nạn đói, chính quyền các cấp đã tăng cường chỉ đạo gia cố đê điều, canh giữ và sẵn sàng đối phó với tình huống lũ lụt xảy ra, bãi bỏ thuế thân và một số thuế bất công khác, kêu gọi điền chủ giảm tô cho nông dân, đồng thời thực hiện cuộc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, giúp nhau vượt qua khó khăn.


Nhằm khuyến khích và giúp đỡ nông dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất nông nghiệp, Uỷ ban Hành chính chỉ đạo thành lập các ban khuyến nông tại các xã ngoại thành. Thực hiện khẩu hiệu: “Tấc đất tấc vàng, không một tấc đất bỏ hoang”, nông dân Thủ đô tích cực trồng rau, cấy lúa, trồng màu ngắn ngày từ các mảnh đất nhỏ của gia đình đến các vườn hoa của thành phố, từ các mảnh ruộng hoang đến các vạt bãi ven sông. Nông dân ngoại thành khai phá ruộng bị hoang hoá, nhất là chuyển diện tích ruộng trước đây bị Nhật bắt trồng đay, trồng thầu dầu sang trồng cây lương thực. Sau một tháng vận động tăng gia sản xuất, Hà Nội đã tăng thêm 200 ha diện tích trồng cây lương thực.


Bằng các phong trào nhường cơm xẻ áo, tăng gia sản xuất, chỉ sau một thời gian ngắn, nạn đói trên địa bàn Hà Nội cơ bản được đẩy lùi. Thắng lợi trên mặt trận chống giặc đói có ý nghĩa chính trị - xã hội rất quan trọng. Đời sống nhân dân, nhất là nông dân lao động bước đầu được ổn định.


Đi đôi với chỉ đạo tăng gia sản xuất nông nghiệp, chính quyền thành phố chủ trương phải duy trì sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp và khuyến khích lưu thông, trao đổi hàng hoá. Ngay sau khi được thành lập, Uỷ ban Nhân dân thành phố đã chỉ đạo thành lập Uỷ ban công nhân cách mạng, sau đổi thành Uỷ ban xí nghiệp, tạm thời làm nhiệm vụ quản lý sản xuất trong các nhà máy, xí nghiệp. Chính quyền đã bổ nhiệm giám đốc một số nhà máy, quy định chế độ lao động của công nhân và quan hệ chủ - thợ. Các hoạt động khác như: điện, nước, giao thông, vận tải, v.v. không bị ngưng trệ.


Dưới sự chỉ đạo của các cấp chính quyền thành phố, nhân dân Hà Nội đã thực hiện chủ trương lập Quỹ độc lập, thực hiện Tuần lễ vàng của Chính phủ. Sau 2 tuần kể từ khi Sắc lệnh về Quỹ độc lập được ban hành, nhân dân Hà Nội đã đóng góp được trên 50 vạn đồng, 2.201 lạng vàng, 920 tạ thóc và các hiện vật khác có giá trị tương đương 7 triệu đồng, dẫn đầu cả nước về kết quả ủng hộ.


1.2. Xoá bỏ văn hoá thực dân và xây dựng đời sống văn hoá mới của Thủ đô


Vốn là một trung tâm văn hoá hội tụ tinh hoa của nhiều vùng miền trên cả nước, nhưng do hậu quả chính sách văn hoá thực dân của Pháp, nên sau Cách mạng tháng Tám Hà Nội phải đối mặt với nhiều vấn đề văn hoá - xã hội bức xúc, nhất là nạn mù chữ và các di chứng của văn hoá thực dân. Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách đặt ra trên mặt trận văn hoá của chính quyền Thủ đô lúc này là tập trung chống nạn mù chữ, mở mang giáo dục, cải cách việc học tập và tiến hành xây dựng đời sống văn hoá mới.


Thực hiện chủ trương “Bắt buộc học chữ quốc ngữ và không mất tiền” của Chính phủ, Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội xác định nhiệm vụ trọng tâm là phát động phong trào Bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ. Dưới sự tổ chức của chính quyền, trong một thời gian ngắn, hầu hết các khu phố, thôn xóm nội, ngoại thành đã tổ chức những lớp bình dân học vụ cho những người chưa biết chữ thuộc đủ thành phần xã hội, lứa tuổi. Thanh niên, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức và tất cả những ai biết chữ đều hăng hái tham gia các “đội quân tiễu trừ giặc dốt”. Trong tháng 9-1945, Hà Nội đã có hơn 2.000 thanh niên nam nữ xung phong làm giáo viên bình dân học vụ và phát hành hàng vạn sách học vần “i-tờ”, đáp ứng yêu cầu của hàng nghìn lớp học được mở ở các gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, đình chùa, thu hút hàng vạn người mù chữ theo học vào bất kỳ giờ nào thuận tiện. Với tinh thần học tập đó, chỉ trong vòng 3 tháng cuối năm 1945, đầu năm 1946, hầu hết nhân dân Hà Nội đã biết đọc, biết viết.


Trên cơ sở của phong trào thanh toán nạn mù chữ, chính quyền thành phố chủ trương bước đầu phát triển bổ túc văn hoá, xây dựng hệ thống giáo dục phổ thông. Ngay sau ngày tuyên bố độc lập (2-9-1945), giáo viên và học sinh các trường phổ thông của Hà Nội nhanh chóng tập trung về lại trường cũ. Các trường đã tổ chức lễ khai giảng năm học mới đầu tiên dưới chế độ mới. Một khí thế, tinh thần háo hức, hân hoan tràn ngập các trường học. Một số trường thay đổi tên gọi thể hiện rõ hơn tinh thần dân tộc và cách mạng, như Trường nữ học Đồng Khánh lấy tên mới là Trường nữ trung học Trưng Vương. Các môn học cơ bản vẫn được giảng dạy nhưng nội dung đã lồng ghép, nêu cao tinh thần dân tộc. Tất cả các cấp học của thành phố đều dùng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Việc chính thức dạy học bằng tiếng Việt có ý nghĩa là một cuộc cách mạng về nội dung, phương pháp dạy học. Nhân dân Thủ đô tích cực hỗ trợ giáo dục như quyên tiền đóng bàn ghế cho học sinh, ủng hộ ngày công tu sửa, quét vôi trường lớp. Một số gia đình ở ngoại thành còn tạo điều kiện dùng nhà ở của mình để mở lớp học.


Ngoài hệ thống các trường cũ, khá đa dạng về loại hình nhưng chủ yếu là trường tư, trước nhu cầu bức thiết cần phải có trường học của Mặt trận Việt Minh tại thủ đô Hà Nội, đồng chí Trường Chinh đã trực tiếp ra chỉ thị thành lập Trường tư thục Tiểu học và Trung học Phan Chu Trinh với ý nghĩa thử nghiệm trường kiểu mới sau cách mạng. Lễ khai giảng của trường được tổ chức vào ngày 16-9-1946. Ngoài ra, một số lớp mẫu giáo đã được mở thí điểm ở ngoại thành. Tuy nhiên, chương trình và nội dung còn chưa thống nhất.


Cùng với cuộc vận động “diệt giặc dốt”, chính quyền thành phố đã mở cuộc vận động xây dựng “đời sống mới”. Chính quyền các cấp, các ngành tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, tinh thần yêu lao động, xây dựng đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, tẩy rửa những thói hư tật xấu do xã hội cũ để lại. Cuộc vận động đã được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng và tham gia sôi nổi. Chính quyền nhân dân đã thi hành một loạt biện pháp nhằm xoá bỏ những tệ nạn: trộm cắp, cờ bạc, gái điếm,… Các phong tục, tập quán lạc hậu được khắc phục cơ bản. Đời sống văn hoá mới bước đầu hình thành. Những nét nổi bật trong đời sống văn hoá mới là bình đẳng giàu nghèo, bình quyền nam nữ, tự do hôn nhân, tiết kiệm, giản dị trong cưới xin, ma chay. Tên phố, phường, công viên trước đây mang tên các quan lại thực dân được thay thế bằng tên các anh hùng dân tộc.


Với vai trò là trung tâm văn hoá của đất nước, tại Hà Nội, cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, báo chí diễn ra rất quyết liệt. Chính quyền thành phố đã định hướng cho văn nghệ sĩ phát huy tinh thần yêu nước sáng tác những tác phẩm ích quốc, lợi dân, chống thực dân. Hầu hết các văn nghệ sĩ ở Hà Nội đã hướng các công trình của mình vào việc phục vụ những công tác chính trị khẩn cấp trước mắt. Hoạt động báo chí phát triển mạnh mẽ. Chính quyền thành phố định ra những thể lệ đảm bảo tự do báo chí. Chỉ trong một thời gian ngắn, số báo xuất bản ở Thủ đô đã tăng từ hơn 10 tờ lên tới 100 tờ. Tiêu biểu như các báo Cờ giải phóng, Sự thật, Cứu quốc, tạp chí Tiền phong,... Được sự ủng hộ của chính quyền thành phố, ngày 7-10-1945, Ban vận động văn hoá toàn quốc đã tổ chức Tuần lễ văn hoá ở Hà Nội, mở đầu cho phong trào văn nghệ cách mạng có tính quần chúng rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc.


Xuất phát từ bản chất của một nền dân chủ kiểu mới, trong khi bài trừ văn hoá thực dân, chính quyền Thủ đô cũng định hình cách nhìn có văn hoá đối với các di sản của chế độ cũ. Thái độ văn hóa thể hiện ở việc thừa kế hệ thống quy hoạch kiến trúc đô thị, nhất là các công trình văn hoá, ngay kể cả đường phố mang tên nhà khoa học người Pháp. Trong khi bài trừ hủ tục lạc hậu, thực hiện Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền Hà Nội đã coi trọng việc bảo tồn đình chùa, đền miếu, Phương Đông Bác cổ học viện và các di tích - danh thắng khác.


Những thắng lợi nêu trên không chỉ có ý nghĩa tạo dựng thể chế văn hoá mới mà còn góp phần nâng cao ý thức, lòng tự tôn dân tộc, tăng cường năng lực làm chủ của nhân dân đối với chính quyền trong buổi đầu độc lập.


1.3. Đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững ổn định chính trị tại Thủ đô


Thực hiện thoả ước Pốtxđam (Potsdam), quân Anh và quân Tưởng Giới Thạch mang danh nghĩa Đồng minh vào Việt Nam giải giáp quân Nhật. Ngay sau khi chính quyền thành phố mới được thiết lập, Trung ương Đảng và Chính phủ mới về Hà Nội thì tướng lĩnh Tưởng cũng đã nhanh chóng đáp máy bay đến sân bay Gia Lâm và quân lính nhanh chóng vào đồn trú ở Hà Nội. Âm mưu của chúng là kiểm soát thành phố, tiêu diệt Đảng Cộng sản, khống chế Chính phủ cách mạng, tạo áp lực cho các lực lượng tay sai (Việt Quốc và Việt Cách) giành chính quyền. Thực dân Pháp cũng đã đặt được một phái bộ ở Hà Nội, do Xanhtơni (Sainteny) đứng đầu, nhằm tạo chỗ đứng chân phục vụ quá trình khôi phục địa vị, quyền lợi thực dân của chúng ở miền Bắc. Phái bộ này hoạt động ngoại giao con thoi và tiếp xúc với Pháp kiều ở Hà Nội để chuẩn bị các bước tiếp theo. Một số sĩ quan Mỹ, vốn đã từng hợp tác với Việt Minh chống Nhật ở Việt Bắc trước ngày tổng khởi nghĩa, cũng nhanh chóng có mặt tại Hà Nội. Các đơn vị đồn trú của quân Nhật trên địa bàn thành phố vẫn nguyên vẹn chờ quân Đồng minh vào tước khí giới. Các đảng phái tay sai thân Nhật tại Hà Nội sau một thời gian nằm co chờ thời lại tiếp tục tìm chủ mới khi quân Tưởng và phái bộ Pháp có mặt ở Hà Nội.


Với vai trò là trung tâm chính trị đầu não của nước Việt Nam mới, Hà Nội trở thành điểm quy tụ ý đồ chính trị của nhiều lực lượng, nhiều phe phái, mà mục tiêu cơ bản vẫn là tiêu diệt Đảng Cộng sản, giành quyền kiểm soát đất nước thông qua biện pháp vũ trang hoặc phi vũ trang. Trong đó quyết liệt nhất là sự chống phá của Việt Quốc và Việt Cách. Chúng đặt sào huyệt ở Quán Thánh, Ngũ Xá và đóng trụ sở ở nhiều nơi khác trong thành phố. Sau khi tạo được chỗ đứng, chúng tiến hành xuất bản báo chí, tổ chức phát thanh bôi nhọ chính quyền cách mạng, xuyên tạc Việt Minh, gây tâm lí hoang mang trong nhân dân; tích cực móc nối gây dựng cơ sở, gây dựng lực lượng, lôi kéo những người kém hiểu biết; tổ chức bắt cóc, ám sát cán bộ, tống tiền, cướp của, giết người, phá rối trật tự an ninh trong thành phố. Tờ báo mà chúng phát hành số lượng lớn nhất tại Hà Nội là tờ Việt Nam, ngoài ra còn các tờ báo phản động khác như Thiết thực, Liên hiệp, Đồng tâm, Sao trắng trắng trợn vu khống cách mạng. Các tổ chức của chúng như “Thiết huyết đoàn”, “Nghĩa sĩ đoàn” tuyển mộ những tên lưu manh, chuyên đi cướp bóc, khủng bố nhân dân, bắt cóc cán bộ. Tình hình trên đặt ra cho chính quyền thành phố Hà Nội là phải chia sẻ trách nhiệm nặng nề cùng Trung ương bảo vệ chính quyền cách mạng. Giữ vững chính quyền cách mạng ở Hà Nội không chỉ là vấn đề của riêng địa phương Hà Nội, mà liên quan chặt chẽ đến sự tồn vong của Trung ương Đảng, của Chính phủ và cả thể chế mới. Thực hiện nhiệm vụ được giao, chính quyền thành phố đã thực thi nhiều biện pháp quan trọng để giữ vững chính quyền, đảm bảo môi trường cho hoạt động của Trung ương Đảng, Chính phủ, tạo điều kiện cho công dân Thủ đô thực hiện quyền công dân trên lãnh thổ, đấu tranh với mọi mưu toan chống phá, nhất là khi các đơn vị bộ đội chủ lực phải dãn ra ngoài thành phố trước sức ép của quân Tưởng.


Ngay khi quân Tưởng mới vào Hà Nội, chính quyền thành phố đã huy động và tổ chức đông đảo quần chúng các khu phố tiến hành mít tinh, diễu hành với khẩu hiệu “Hoa Việt thân thiện”, “ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh”, “Việt Nam độc lập muôn năm”... để vừa thể hiện chủ trương hoà hoãn với quân Tưởng của Chính phủ ta, vừa biểu dương sức mạnh của quần chúng trước hành động ngang ngược của quân Tưởng. Uỷ ban Hành chính thành phố chỉ đạo lực lượng tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu tăng cường bảo vệ các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội, nhất là các cơ quan Đảng, Chính phủ, Tổng bộ Việt Minh, Toà soạn Báo Cứu quốc, trụ sở Quốc hội. Sau khi thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm Nam Bộ, chính quyền đã tổ chức nhân dân tiến hành các cuộc mít tinh phản đối hành động xâm lược của Pháp, vận động nhân dân ủng hộ Nam Bộ kháng chiến với cả tinh thần và vật chất.


Đầu năm 1946, trước tình thế Tưởng và Pháp bắt tay hòa hoãn ngày 6-3-1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ. Theo đó, quân Pháp sẽ ra miền Bắc thế chân quân Tưởng làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Sau khi đưa quân ra Hà Nội, thực dân Pháp đã liên tiếp vi phạm Hiệp định Sơ bộ, tự tiện chiếm đóng thêm nhiều địa điểm mới không theo quy định. Chúng tăng cường vũ khí, lập chốt tác chiến ở nhiều điểm trong thành phố, phân phát vũ khí cho kiều dân Pháp, tiến hành nhiều vụ khiêu khích trắng trợn tại Thủ đô. Tháng 7-1946, một bộ phận lực lượng phản động trước đây “ôm chân” Tưởng quay sang làm tay sai cho Pháp đã tập hợp nhau trong tổ chức Đại Việt quốc dân Đảng. Chúng lập trụ sở ở phố Ôn Như Hầu, tiến hành các hành động bắt cóc, tống tiền, giết người, in tiền giả. Chính quyền thành phố đã phối hợp với các cơ quan Trung ương phá tan âm mưu, đưa tội ác của chúng ra ánh sáng.


Trước các hành động gây hấn của Pháp, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng Hà Nội ngày càng lên cao với vai trò tổ chức của chính quyền và vai trò vận động của Mặt trận Việt Minh, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc,... Các cuộc đấu tranh trên địa bàn thành phố bảo vệ chủ quyền của ta, phản đối các hành động gây hấn của Pháp, đòi Pháp phải thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Sơ bộ và mở ngay cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ ta. Ngày 14-3-1946, hơn 100.000 nhân dân Hà Nội đã mít tinh phản đối thực dân Pháp xâm lược miền Nam, đòi Pháp phải tỏ rõ thiện chí đàm phán với Chính phủ ta để giải quyết hoà bình các vấn đề về Việt Nam. Ngày 23-9-1946, nhân kỷ niệm một năm ngày Nam Bộ kháng chiến, dưới sự chỉ đạo của chính quyền các cấp, toàn dân Hà Nội ngừng mọi hoạt động trong nửa giờ để hướng về các chiến sĩ miền Nam. Không chỉ vậy, Uỷ ban thành phố còn thực hiện phong trào ủng hộ Nam Bộ kháng chiến với các cuộc mít tinh, biểu tình; tổ chức quyên tiền, mua sắm vũ khí, thuốc men, quần áo gửi vào Nam Bộ; tổ chức và đưa tiễn các đơn vị tình nguyện của Hà Nội và của các địa phương lân cận vào Nam Bộ chiến đấu.


Ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với đại diện của Chính phủ Pháp bản Tạm ước Việt - Pháp. Nhưng bản Tạm ước ký chưa ráo mực thực dân Pháp đã liên tiếp vi phạm. Ngày 14-10-1946, hưởng ứng lời hiệu triệu của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam và các đoàn thể trong Mặt trận Việt Minh, chính quyền Hà Nội đã lãnh đạo nhân dân tiến hành tổng bãi công, bãi thị, bãi khoá, kịch liệt lên án chính sách lật lọng, cố tình gây chiến của thực dân Pháp. Trong những tháng cuối năm 1946, khi cơ hội hoà bình ngày càng thu hẹp trước hành động hiếu chiến của Pháp, chính quyền thành phố tổ chức cho nhân dân chuẩn bị chủ động tiến hành kháng chiến.


Như vậy, trước muôn vàn khó khăn thử thách khi cách mạng mới thành công, phải điều hành quản lý một đô thị thực hiện vai trò Thủ đô trong điều kiện thù trong giặc ngoại chống phá với mức độ quyết liệt và tập trung nhất, chính quyền thành phố Hà Nội đã tổ chức nhân dân đấu tranh bằng cả lực lượng vũ trang và phi vũ trang, cả lực lượng vũ trang và lực lượng quần chúng, bằng cả hoạt động công khai và bán công khai. Hoạt động của chính quyền thành phố đã góp phần quan trọng bảo đảm giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để giải quyết những khó khăn cấp bách, tăng cường thực lực cách mạng, giữ vững phương châm đấu tranh với từng kẻ thù, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài mà Đảng ta biết khó tránh khỏi.


2. Bước đầu tổ chức quản lý một đô thị có vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước


2.1. Tổ chức đơn vị hành chính trong đô thị


Sau Cách mạng tháng Tám 1945, địa giới hành chính Hà Nội cơ bản được giữ nguyên như thời kỳ trước đó. Nhưng từ khi có Sắc lệnh số 63 và Sắc lệnh số 77, các đơn vị hành chính - lãnh thổ có căn cứ pháp lý để tổ chức lại cho phù hợp hơn với đặc điểm tình hình mới. Tháng 5-1946, Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội quyết định chia Hà Nội thành 17 khu phố nội thành (Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh nghĩa thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bảy Mẫu, Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Bạch Mai, Vạn Thái, Đồng Nhân) và 5 khu hành chính ngoại thành (Đại La, Đề Thám, Mê Linh, Lãng Bạc, Đống Đa.


Từ tháng 11-1946, trước nguy cơ chiến tranh ngày càng đến gần, cùng với quá trình quân sự hoá tổ chức và hoạt động của chính quyền thì địa giới hành chính - lãnh thổ cũng được tổ chức lại. Nội thành được chia làm ba liên khu phố tạo ra khả năng liên kết không gian chiến đấu đảm bảo giam chân, chủ động làm rối loạn thế trận địch. Liên khu I gồm các khu: Trúc Bạch, Đồng Xuân, Đông Thành, Đông Kinh nghĩa thục, Hoàn Kiếm, Hồng Hà, Long Biên. Liên khu II gồm các khu: Quán Sứ, Bảy Mẫu, Đại học, Chợ Hôm, Vạn Thái, Đồng Nhân, Lò Đúc. Liên khu III gồm các khu: Bạch Mai, Thăng Long, Văn Miếu.


2.2. Tổ chức không gian đô thị có vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước


Chỉ năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, do thời gian gấp rút, phải giải quyết một khối lượng công việc to lớn, nặng nề trong điều kiện thù trong, giặc ngoài chống phá, nên hầu như chính quyền thành phố chưa có điều kiện quy hoạch kiến trúc không gian đô thị, về cơ bản vẫn kế thừa kiến trúc không gian - cảnh quan đô thị thời thuộc địa. Vấn đề chủ yếu đặt ra là chuyển đổi mục đích sử dụng không gian kiến trúc để phục vụ cho thể chế dân chủ cộng hoà, với 3 loại hình: không gian đặc biệt, không gian công cộng và không gian kiến trúc nhà ở. Thời gian đầu, các kiến trúc đặc biệt trước đây dành cho công sở của chính quyền Liên bang Đông Dương và Xứ Bắc Kỳ như Phủ toàn quyền, Dinh Thống sứ, Toà đốc lý, Sở Tài chính... đã chuyển thành trụ sở của Chính phủ, Uỷ ban Hành chính Bắc Bộ, Uỷ ban Hành chính thành phố Hà Nội, Nha Tài chính... Trên thực tế đã từng bước hình thành trung tâm chính trị Ba Đình của thể chế dân chủ cộng hoà. Tuy vậy, trong bối cảnh quân đội nước ngoài còn hiện diện trên đất nước thì các kiến trúc thể hiện quyền lực chính trị tối cao luôn là mục tiêu chiếm đóng của quân Tưởng, rồi sau đó là quân Pháp - nơi chúng xem là “tượng trưng cho chủ quyền của Pháp ở Đông Dương”. Do đó, trụ sở các cơ quan, công sở của Trung ương không được quy hoạch ổn định, mà thường xuyên biến động, thậm chí phải tổ chức rất “động” để thích ứng với tình hình.


2.3. Tổ chức hạ tầng - kỹ thuật đô thị


Tổ chức quản lý một đô thị có vai trò trung tâm chính trị đất nước rất cần kết cấu hạ tầng - kỹ thuật tương ứng, như giao thông, liên lạc. Tại Hà Nội, hệ thống giao thông trước đây tiếp tục được kế thừa, sử dụng gồm đường bộ, đường sắt, vừa bảo đảm giao thông trong đô thị và giao thông với bên ngoài. Hệ thống thông tin liên lạc nhanh chóng được chính quyền tiếp quản, quốc hữu hoá, đóng vai trò đặc biệt quan trọng kết nối giữa Hà Nội với cả nước, giữa Trung ương với các địa phương. Khi quân Nhật đầu hàng, nhiều đoạn đường dây và thiết bị bị phá huỷ, ngừng hoạt động, đã được sửa chữa, đi vào hoạt động. Trong đó Bưu điện Bờ Hồ và Sở Vô tuyến điện Bạch Mai đóng vai trò đặc biệt quan trọng, trở thành biểu tượng liên kết Thủ đô với cả nước, đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành của Trung ương với các địa phương. Đến tháng 9-1945, phần lớn các tỉnh đã có thể liên hệ được với Hà Nội bằng máy vô tuyến điện, điện tín và điện thoại. Liên lạc vô tuyến điện từ Hà Nội duy trì thường xuyên với một số nước.


3. Chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến toàn quốc


Đến giữa tháng 12-1946, thực dân Pháp đã tập trung ở Hà Nội trên 2.000 quân với trang bị, vũ khí hiện đại. Chúng lập chốt tác chiến ở nhiều điểm trong thành phố, trang bị vũ khí cho hàng nghìn Pháp kiều, tổ chức họ thành những ổ tác chiến chốt ở những đường phố quan trọng. Bên cạnh những nơi được đóng quân theo quy định, thực dân Pháp tự tiện chiếm đóng thêm nhiều địa điểm mới như: thành Hà Nội, Phủ toàn quyền cũ, đền Quán Thánh, nhà thương Đồn Thuỷ, trường bay Gia Lâm… Với lực lượng đông, được trang bị vũ khí hiện đại, lại đóng ở những vị trí quan trọng, thực dân Pháp hy vọng khi nổ súng có thể nhanh chóng bao vây chia cắt, tiêu diệt quân đội ta, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chính quyền cách mạng, làm chủ thành phố trong vòng 24 giờ. Trước nguy cơ chiến tranh ngày càng đến gần, chính quyền thành phố tích cực chuyển hướng cho thích ứng với yêu cầu chuẩn bị kháng chiến. Là Thủ đô, nhiệm vụ chuẩn bị, tăng cường thực lực kháng chiến đặt ra cho chính quyền và nhân dân Hà Nội rất nặng nề. Đó là phải bảo vệ các cơ quan của Trung ương, bảo vệ các nhân sĩ, trí thức và nhân dân; di chuyển máy móc, thiết bị và các tài sản vật dụng cần thiết ra hậu phương để xây dựng lực lượng kháng chiến lâu dài; chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và những tiềm lực cần thiết cho kháng chiến. Thực hiện nhiệm vụ đó, các kế hoạch được chính quyền thành phố chỉ đạo triển khai khẩn trương.


3.1. Thiết lập các khu và thành lập uỷ ban bảo vệ chuyên trách


Tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, sau Hội nghị Quân sự toàn quốc (19-10-1946), Hà Nội được tổ chức thành Chiến khu XI (cả nước có 12 chiến khu) do Vương Thừa Vũ làm Khu trưởng. Mỗi khu có Khu uỷ, Uỷ ban bảo vệ. Khu trưởng trực tiếp phụ trách quân đội. Bộ Chỉ huy khu XI lúc này do Vương Thừa Vũ làm Chỉ huy trưởng.


Uỷ ban bảo vệ Hà Nội có nhiệm vụ chuẩn bị tài chính, quyên tiền, mua vũ khí, tổ chức canh phòng, huấn luyện quân sự, chuẩn bị mạng lưới đường dây giao thông liên lạc, dự trù thuốc men chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.


Dưới sự chỉ đạo của Bộ chỉ huy Khu uỷ XI, Uỷ ban bảo vệ từ thành phố đến các liên khu phố nội thành và các khu hành chính ngoại thành đã chỉ đạo chuẩn bị các địa điểm, các khu an toàn ở nội thành và ngoại thành hết sức chu đáo, cẩn mật để bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công tác “Tổng di chuyển” các cơ quan Đảng và Nhà nước, các xí nghiệp, kho tàng ra khỏi vùng Hà Nội, tổ chức đưa trí thức và cán bộ kỹ thuật ở Thủ đô đi tham gia kháng chiến cũng được xúc tiến khẩn trương. Công nhân Thủ đô đã di chuyển hàng trăm tấn máy móc lên chiến khu. Các kho lương thực được thiết lập ở vùng ngoại ô, bảo đảm dự trữ lương ăn cho bộ đội và tự vệ. Các mặt công tác phá hoại để chặn địch, công tác tiếp tế, hậu cần, giao thông liên lạc, cứu thương… đều được tính toán và chuẩn bị trước. Công tác trừ gian cũng được hết sức coi trọng.


Từ sự chỉ đạo của Uỷ ban bảo vệ thành phố và Bộ chỉ huy mặt trận, chính quyền các liên khu phố và khu phố đều thành lập các ban cứu thương, tiếp tế, phá hoại, tình báo, giao thông, tản cư, địch vận, trừ gian, các tổ sản xuất và sửa chữa vũ khí, quân cụ… Các lực lượng thanh niên, tự vệ bí mật đào đắp công sự chiến đấu, đào giao thông hào, đặt vật chướng ngại ở các cửa ô để ngăn cản cơ giới địch, đục lỗ bắn, đục tường ở các dãy phố để cơ động chiến đấu. Các cụ già, em bé được đưa đi tản cư về các vùng xa thành phố. Nhân dân, chủ yếu là lực lượng thanh niên còn ở lại đều thực hiện nếp sống quân sự hoá, được động viên tham gia vào các công tác phục vụ chiến đấu, xây dựng chiến luỹ, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Vùng ven nội thành và các làng xóm ở ngoại thành đều sửa soạn thực hiện “Vườn không nhà trống”, sẵn sàng “Tiêu thổ kháng chiến” để chặn bước tiến của giặc Pháp. Nhằm cổ động tinh thần chiến đấu của nhân dân, trên địa bàn Thủ đô, các báo chí xuất bản hàng ngày đều in các khẩu hiệu: “Toàn dân kháng chiến”, “Trường kỳ kháng chiến”, “Kháng chiến là sống”, “Không kháng chiến là chết”.


3.2. Tăng cường thực lực kháng chiến


Tranh thủ điều kiện hoà bình tạm thời, chính quyền Hà Nội đã tích cực chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng về mọi mặt. Nhằm đoàn kết rộng rãi hơn nữa các tầng lớp nhân dân Thủ đô trong cuộc “Kháng chiến kiến quốc”, ngày 29-5-1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt) ở Hà Nội được thành lập, bao gồm các đoàn thể Cứu quốc và các đảng phái yêu nước, các nhân sĩ trí thức ngoài Mặt trận Việt Minh. Nhiều tổ chức công đoàn được thành lập như: Công đoàn ấn loát, Công đoàn xe hơi, Công đoàn hỏa xa, Công đoàn vô tuyến điện, Công đoàn điện nước, Công đoàn may mặc, Công đoàn bồi bếp, Công đoàn công nghệ… Mặt trận rộng rãi của phụ nữ Hà Nội dựa vào Hội phụ nữ Cứu quốc làm nền tảng, thu hút thêm đông đảo các tầng lớp phụ nữ Thủ đô tham gia hoạt động cách mạng. Tổ chức của Mặt trận Việt Minh lan rộng tới toàn thể nhân dân. Lực lượng chính trị không ngừng được bồi dưỡng và phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện vũ trang nhân dân.


Ngay sau khi giành được chính quyền và chiếm được trại Bảo an binh, chính quyền thành phố đã tập trung số cán bộ và đội viên tự vệ chiến đấu, công nhân xung phong, đoàn thanh niên xung phong Hoàng Diệu, một số anh em bảo an tình nguyện theo cách mạng, tiến hành sáp nhập với các chi đội Giải phóng quân của Thủ đô. Lực lượng Vệ quốc quân được củng cố, bổ sung thêm những thanh niên, sinh viên, học sinh, công nhân, dân nghèo và nông dân lao động ngoại thành. Nhằm huấn luyện, đào tạo cán bộ tự vệ làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự, trị an trong thành phố, sáng ngày 7-1-1946, tại Trường kỹ thuật thực hành (nay là tập thể 2F Quang Trung) lễ khai giảng trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh được tiến hành. Đến dự có Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số bộ trưởng trong Chính phủ và lãnh đạo thành phố Hà Nội. Các cán bộ chủ chốt trong chính quyền thành phố đã tích cực trực tiếp tham gia giảng dạy. Giảng dạy về chính trị là Khuất Duy Tiến, môn cứu thương là bác sĩ Trần Duy Hưng. Hoạt động của trường đã góp phần quan trọng vào việc củng cố và nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, kỹ chiến thuật của cán bộ và chiến sĩ thành Hoàng Diệu. Khắp các cơ sở, từ nhà máy, xí nghiệp cho tới các thôn xã, tự vệ sôi nổi tập luyện quân sự.


Bộ chỉ huy bộ đội Hà Nội từng bước được kiện toàn. Đã hình thành 5 tiểu đoàn bộ binh và 4 trung đội pháo binh ở 4 pháo đài: Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Thổ Khối. Bộ chỉ huy trực tiếp chỉ huy tới các tiểu đoàn và các đơn vị pháo binh. Ngày 29-6-1946, Đoàn pháo binh Thủ đô được thành lập, gồm 3 pháo đài Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo. Mặc dù các đơn vị bộ đội của Hà Nội tổ chức biên chế chưa rõ ràng, cán bộ luôn thay đổi, trình độ mọi mặt còn thấp kém nhưng tinh thần yêu nước và khí thế cách mạng rất sôi nổi.


Đi đôi với xây dựng các đơn vị bộ đội chủ lực, Uỷ ban Hành chính thành phố đặc biệt chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Ngay sau Cách mạng tháng Tám, trên cơ sở lựa chọn trong số các đội viên tự vệ Cứu quốc, bổ sung thêm các đoàn viên ưu tú trong Công nhân cứu quốc và Thanh niên cứu quốc, thành lập Đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu. Các đoàn viên được đào tạo, huấn luyện quân sự cấp tốc từ 1 đến 2 tháng. Bên cạnh đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, để đáp ứng nguyện vọng của số đông thanh niên Hà Nội lúc bấy giờ đang sục sôi tinh thần yêu nước, căm thù giặc, rất hăng hái tham gia lực lượng vũ trang, muốn được trực tiếp cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc, cuối năm 1945, Uỷ ban Hành chính thành phố đã tổ chức Đoàn tự vệ thành. Đây là tổ chức tự vệ rộng rãi, do ông Khuất Duy Tiến, Phó Chủ tịch Uỷ ban Hành chính thành phố trực tiếp phụ trách. Tổ chức này ra đời đã nhanh chóng thu hút hàng vạn thanh niên đủ các tầng lớp cả trong các tổ chức cứu quốc và ở các đoàn thể quần chúng tự nguyện tham gia.


Lực lượng tự vệ các làng xã ngoại thành có ban chỉ huy chung, dưới có ban chỉ huy tự vệ các khu Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh. Mỗi khu lại chia ra 2, 3 tiểu khu gồm một số thôn, xã gần nhau; mỗi thôn có một trung đội, mỗi xã có một đại đội. Số thanh niên trẻ khỏe, tinh thần hăng hái được biên chế vào các trung đội tự vệ chiến đấu, còn đông đảo anh chị em nông dân lao động được biên chế vào các đơn vị tự vệ rộng rãi. Nhiệm vụ của lực lượng tự vệ ngoại thành được Uỷ ban bảo vệ thành phố xác định là giữ gìn trật tự, trị an thôn xóm, cùng với công an chống mọi hoạt động của bọn Việt gian phản động tay sai của địch tung ra ngoại thành để điều tra và phá hoại.


Trong nhà máy, các đội tự vệ của công nhân vừa sản xuất, vừa bảo vệ nhà máy cũng được củng cố, tiến hành huấn luyện quân sự, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Tự vệ các nhà máy, xí nghiệp đã tích cực sửa chữa súng đạn và sản xuất các loại vũ khí thô sơ để trang bị cho các lực lượng vũ trang Thủ đô.


Ngày 29-8-1946, tại khu vực Đấu Xảo, Uỷ ban Hành chính thành phố tổ chức lễ sáp nhập hai tổ chức tự vệ chiến đấu và tự vệ thành, lấy đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu làm nòng cốt thành Đoàn thanh niên tự vệ Hà Nội. Sự ra đời của Đoàn thanh niên tự vệ Hà Nội đã chứng tỏ sự lớn mạnh của các lực lượng vũ trang Thủ đô trước yêu cầu và nhiệm vụ mới. Bên cạnh đó, thành phố đã tổ chức được 12 đội cảm tử chuyên dùng bom ba càng để đánh xe tăng, xe bọc thép của địch; 30 tổ du kích đặc biệt, mỗi tổ có từ 2 đến 5 người, cài ở các điểm bất ngờ, kiểm soát ngã ba, ngã tư trọng yếu, chuyên làm nhiệm vụ nghi binh quấy rối, bắn tỉa và phục kích.


Chuẩn bị về vũ khí, trên cơ sở lực lượng chính trị ngày càng rộng lớn và vững chắc, chính quyền thành phố đẩy mạnh việc vũ trang hoá toàn dân nhằm bảo vệ Trung ương Đảng, Chính phủ, các cơ quan lãnh đạo và chính quyền thành phố, góp phần bảo vệ trật tự trị an ở Thủ đô. Các lực lượng vũ trang Thủ đô gồm các đơn vị bộ đội chủ lực, các đơn vị tự vệ chiến đấu, tự vệ thành và tự vệ ngoại thành đều được bổ sung trang bị, vũ khí. Trong lực lượng tự vệ chiến đấu đã có 500 súng trường và tiểu liên, hàng vạn lựu đạn, mìn, chai cháy (ét-xăng-crếp). Các đội viên tự vệ trang bị cho mình bằng các loại vũ khí thô sơ, tự tạo. Nhân dân Thủ đô đã tích cực hưởng ứng các đợt vận động quyên góp, lấy tiền mua sắm vũ khí cho tự vệ. Nhiều đơn vị tự vệ đã tự may sắm đồng phục, mũ ca-lô, phù hiệu, sao vuông…


Chuẩn bị về mặt tác chiến, căn cứ vào tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, Uỷ ban Hành chính, Uỷ ban Bảo vệ thành phố và Bộ chỉ huy chiến khu thống nhất kế hoạch tác chiến là: tập trung phần lớn lực lượng bộ đội chủ lực ở phía Tây - Bắc và Tây - Nam thành phố, cùng lực lượng tự vệ tại chỗ hình thành thế bao vây và dồn ép địch về phía sông Hồng. Sử dụng một tiểu đoàn chốt giữ Liên khu I, cùng lực lượng tự vệ hình thành lực lượng nòng cốt cố thủ ở trung tâm thành phố, thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào. Dùng đại bác ở các pháo đài Yên Lãng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Đào Xuyên bắn vào khu vực thành và các căn cứ đóng quân, phá huỷ cơ quan chỉ huy, kho tàng và sát thương quân địch. Dùng bom, bộc phá phá huỷ cầu Long Biên, phá con đường bản lề Cửa Nam - Hàm Long để cô lập khu vực thành. Tập trung lực lượng tiêu diệt các ổ tác chiến và các vị trí lẻ của địch trước, sau đó sẽ đánh chiếm khu vực Trường Bưởi và khu vực Đồn Thuỷ. Sau khi chiếm được các nơi trên mới tập trung lực lượng đánh chiếm khu vực nội thành.


Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính quyền Hà Nội rất coi trọng chuẩn bị về tâm lý, tư tưởng cho các đơn vị vũ trang và nhân dân, tổ chức các phong trào cách mạng quần chúng sâu rộng, sôi nổi, liên tục, bồi dưỡng thực lực cách mạng ngày càng lớn mạnh; khẩn trương thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân địa phương bao gồm lực lượng tự vệ chiến đấu, tự vệ thành, tự vệ xí nghiệp và dân quân tự vệ ngoại thành. Với sự chuẩn bị chu đáo, vào trung tuần tháng 12-1946, chính quyền và nhân dân Hà Nội cơ bản đã hoàn thành mọi mặt chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, sẵn sàng ở tư thế chiến đấu.


Những kết quả mà chính quyền và nhân dân thủ đô Hà Nội đạt được trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (1945-1946) đã góp phần tích cực cùng cả nước tạo ra thế chính trị vững chắc, chuẩn bị những điều kiện cơ bản để quân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.


*


* *


Trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám, chính quyền thành phố Hà Nội được thành lập và bắt đầu vận hành. Tiến trình luật pháp Thủ đô thể hiện nỗ lực lớn của Đảng, Chính phủ đối với quản lý và phát triển Hà Nội trong điều kiện mới giành được độc lập và Hà Nội được xác định là Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thể hiện qua các chế định trong Sắc lệnh số 77 và Hiến pháp dân chủ năm 1946. Mặc dù thiết kế đó chưa được hiện thực hoá toàn phần, do nguy cơ chiến tranh ngày càng đến gần, nhưng tiến trình luật pháp Thủ đô đã thể hiện tư duy quản lý và phát triển đô thị, được phản ánh ở mô hình tổ chức chính quyền với những tính toán đặc thù của địa bàn đô thị và chức năng của một đơn vị hành chính - lãnh thổ đóng vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, chính quyền thành phố Hà Nội đã làm được khối lượng công việc rất lớn: giải quyết những khó khăn cấp bách về kinh tế, văn hoá, xã hội; tổ chức quản lý và phát triển đô thị; chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Hoạt động của chính quyền thành phố Hà Nội trong năm đầu sau Cách mạng tháng Tám không chỉ mang ý nghĩa tự thân mà còn có đóng góp quan trọng vào xây dựng và bảo vệ chính quyền Trung ương, góp phần vào sự nghiệp cách mạng cả nước.
 

(Cẩm nang tri thức Thăng Long/Vietnam+)

Bản để in Lưu vào bookmark